BS Nguyễn Duy Long
Nhìn nhan đề “Tiếng hát trong phòng mổ” (1), tôi không nghĩ đến câu hát “Khi hát lên tiếng ca gửi về người yêu…” đã mịt mù tăm tích, đã nằm đâu đó xa lơ xa lắc. Nhưng tôi sực nhớ tiếng hát thánh ca của bệnh nhân trong cuộc mổ để quên đi nỗi đau đớn. Chuyện rằng, đúng vào ngày lễ Giáng sinh năm 1809, ở vùng biên cương Danville, phía Tây nước Mỹ, McDowell đã mổ thành công khối u buồng trứng (khoảng 10 kg). Quả là ác mộng kinh hoàng nhưng người bệnh vượt qua nhờ vào nghị lực và sức chịu đựng. Quả là thành tựu ngoạn mục của thời chưa có kỹ thuật giảm đau và sát trùng mà mấy chục năm sau mới xuất hiện. Tiếng hát gây ấn tượng và gợi hứng để tôi viết một trong những bài báo đầu tay, Mc. Dowell, “Người mở ra kỷ nguyên mới cho ngành phẫu thuật” và phấn khởi viết loạt chân dung nữa đăng trên mục “Gương sáng danh nhân” của tờ Sức khỏe và Đời sống vào cuối những năm 1990.
Còn ở đây, “Tiếng hát trong phòng mổ” ít ly kỳ hơn, vì đã được gây tê, bệnh nhân nằm trên bàn mổ cất tiếng hòa cùng giai điệu phát ra từ chiếc loa trong phòng mổ. Một trong những điều kỳ diệu của âm nhạc là đem lại trạng thái nhẹ nhàng hơn, đôi khi dịu vợi hơn. Bệnh nhân bớt đi lo sợ và đè nén được cảm xúc đau đớn còn thầy thuốc thì bình tâm hơn và bớt căng thẳng hơn.
Không biết giai điệu ngọt ngào nào đã vang lên, đặc biệt trong tình huống kịch tính của ca mổ khi chưa có kỹ thuật vô cảm? Câu chuyện ở đây không phải bài thánh ca nào và tất nhiên không liên quan gì nhưng tôi nghĩ đến câu mở đầu “Bài thánh ca đó còn nhớ không em” của khúc tình ca “Bài thánh ca buồn” viết năm 1972. “Bài thánh ca đó” chính là ca khúc Giáng sinh “Silent night” viết năm 1818 và đã quá quen thuộc với chúng ta với tên gọi “Đêm thánh vô cùng”.
Theo giới thiệu trên tay gấp bìa trước, tác giả Võ Xuân Sơn là bác sĩ chuyên khoa phẫu thuật thần kinh, có 20 năm công tác tại một bệnh viện tuyến cuối cùng ở phía Nam. Và cũng ngần ấy năm làm việc trong lĩnh vực y tế tư nhân trong vai trò của bác sĩ phẫu thuật cột sống xâm lấn tối thiểu. Và bây giờ, ở tuổi 65, “lên ngựa chia bào”, ông giã từ công việc hành nghề.
Tập sách được viết một cách giản dị và chân thực, không dùng tay nghề khéo léo tô điểm và hoa mỹ (Đôi chỗ diễn đạt bằng một số thuật ngữ chuyên sâu, mà có lẽ không cần thiết, hơi khó hiểu với độc giả phổ thông). Nó có thể xem là hồi ức về các trải nghiệm “bí mật” nghề nghiệp cũng như suy nghĩ về bản thân, đồng nghiệp, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân. Theo chân tác giả, từ hành lang bệnh viện vào đến các bệnh phòng, người đọc như lạc vào muôn mặt của thế giới bệnh tật và thấy thấp thoáng bức tranh “những điều trông thấy” đầy nghịch lý. Ừ thì, đau thương đứt ruột của phận người lo toan như chiếc bách giữa dòng. Ừ thì, dân đen bất hạnh đã nghèo khó cùng cực mà lại gặp tai trời ách nước dồn vào bể khổ bệnh tật. Ừ thì, một người bệnh nằm chờ thần chết trong vô vọng nhưng càng gần cái chết thì càng khát khao sống mãnh liệt hơn.
Lật trang sách chúng ta bắt gặp cảnh ngộ kỳ lạ thời bao cấp mà nay đã xa rồi, ít người biết đến. Thời ngăn sông cấm chợ, xe cấp cứu chuyển bệnh từ các tỉnh kéo về thành phố theo quy luật riêng. Cứ sau 10 giờ đêm là nhộn nhịp. Thì ra, các chuyến xe tranh thủ chở thêm hàng, chủ yếu là nhu yếu phẩm vì thời điểm đó ít bị soát xét hơn. Rồi hoàn cảnh éo le của cô gái điếm bị đâm khi tranh giành khách đến số phận đáng thương tâm với thương tích do đạn bom còn sót lại trong chiến tranh gây nên. “Chiến tranh qua đi nhưng còn bao nhiêu vết thương ở lại. Có những vết thương mà chúng ta hoàn toàn không biết” (Vết thương sọ não do hỏa khí). Đôi khi là hành trình từ một sinh viên đến tiến sĩ, từ xe đạp lên xe gắn máy rồi xe hơi được đặt bên cạnh số phận lầm lũi của một người quang gánh gắn với màn đêm vất vả mưu sinh, từ gánh cà phê đến xe bánh mì rồi thêm xôi mặn (Phận người).
Cứ như vậy, lần theo các ghi chép, tôi gặp những điều rất phi lý và dị thường nhưng đôi khi ngẫm lại không có gì là lạ. Có phải thời buổi hiện đại đã xâm lấn đến nếp sống và nếp nghĩ? Có phải tiện nghi vật chất khiến con người sao nhãng giá trị tinh thần cố hữu đã được xây đắp bao đời nay. Có kẻ bất nhẫn trước tính mạng của người ruột rà, máu mủ. Như mấy đứa con “hiếu thảo” vô trách nhiệm trước tính mạng của cha mẹ hay cha mẹ không chăm lo cho con cái bị rơi vào tình cảnh bệnh tật (Vô cảm). Và có cả những vụ bạo hành, nhân viên y tế bị gây sự, nhục mạ, chửi bới… (trang 166, 180). Giải quyết vấn đề này như thế nào? Đó là câu hỏi không dễ trả lời.
Nhan đề “Tiếng hát trong phòng mổ” như ngầm báo rằng vẫn còn vọng lại sắc màu ấm nồng, vẫn còn nóng bỏng tình đời, vẫn còn tin yêu và hy vọng điều gì tốt đẹp hơn. Trần thế đa đoan này, bức tranh thực tại bộn bề không chỉ là màu sắc u tối, màn đêm mịt mùng đâu mà còn các đốm bừng sáng tươi tắn và trong trẻo lạ thường. Thì ra đó, vẫn còn bản hòa tấu với khoảnh khắc bình dị và vẻ đẹp tươi mộc của cuộc sống. Thì quả nhiên, vẫn còn những tình cảm trong sáng, vẫn còn ứng xử với nhau tử tế, vẫn còn may mắn gặp được nhiều người nhân hậu trong cuộc sống.
Đời thầy thuốc không chỉ toàn may mắn mà còn chịu bất công nữa. Đôi khi, vì ghét bỏ, vì so đo tính toán lợi danh, đàn anh đồng nghiệp ngăn cản không cho phát triển chuyên môn “Cậu mà học cái gì, biết gì mà học”. Rồi chuyển từ khoa này sang khoa khác vì bị chèn ép, vì khác ê kíp (Bị đì). Nhưng trong cái rủi có cái may, như một dịp rẽ qua con đường khác và vượt lên “nghịch cảnh”, có thể làm được điều gì tốt hơn, ít ra cũng hữu ích cho mình. Cũng là quy luật bù trừ.
Từ chuyện này ngẫm sang chuyện kia mà tự nghiệm. Thầy thuốc cần phải tự tin vào chính mình, sẵn sàng tiếp nhận kỹ thuật mới ra đời trên thế giới, đi cùng với việc học hỏi, cập nhật kiến thức và khả năng chuyên môn. Còn bệnh viện phải đủ trang thiết bị và vật tư y tế để sẵn sàng khám và chữa bệnh. Cũng còn sự cố không lường trước được, đôi khi hết sức sơ đẳng, trong quá trình theo dõi và chăm sóc, khiến bệnh nhân tử vong. Và cả dằn vặt và ám ảnh trước cái chết được báo trước mà thầy thuốc đã suy tới tính lui nhưng đành bất lực.
Nói chuyện phiếm cho vui. Ai cũng “chọn việc nhẹ nhàng” dường như chỉ là câu ca tuyên truyền thôi chứ thành thật mà nói, nó chẳng mang triết lý sâu xa gì (Mặc dù tác giả ví von theo hướng khác: “(…) cứ cái gì có tiền thì mình làm. Nói vậy cho dễ hiểu và hợp với thời đại hơn”). Và tác giả nhắc đến “giờ giới nghiêm” (trang 23). Có phải vào khoảng thời gian trước hay sau năm 1980? Đất nước đã hết chiến tranh mà còn mệnh lệnh quân sự “giới nghiêm” thì coi bộ diện mạo bức tranh sinh hoạt xã hội không được tươi tắn lắm!
Và có lẽ tập sách đầu tay này như khúc dạo đầu gợi nghĩ từ thế giới người bệnh và thầy thuốc. Và như hứa hẹn rằng sẽ có tập tiếp theo.

